Monday, July 22, 2013

XIN DÂNG TẶNG ĐẾN LINH HỒN CHUẨN TƯỚNG LÊ QUANG LƯỠNG (21 Tháng 9 năm 2005)

Tướng Lê Quang Lưỡng và Phạm Hòa NKT

CHUẨN TƯỚNG LÊ QUANG LƯỠNG
(1932-2005)


Gia Nhập Quân Đội vào ngày 17 tháng 11 năm 1953
Theo Hoc Khóa Cương Quyết, Khóa 4 Thủ Đức vào 1 tháng 6 năm 1954
Thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 5 nhảy dù tháng 8 năm 1954 Tại Hà Nội 11 năm liên tục Phục Vụ Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù với chức vụ Trung Đội Trưỡng , Đại Đội Trưởng Sỉ Quan Ban 3, Tiểu Đoàn Phó , được chỉ định theo hoc khóa Tiểu Đoàn Trưỡng , ra trường đậu Thủ Khoa.
Tiểu Đoàn Trưởng và Thành Lập Tiểu Đoàn 2 đầu năm 1966
Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn 1 cuối tháng 11 năm 1967
Được Vinh Thăng Chuẩn Tướng và Tư Lệnh Phó , Sư Đoàn Nhẩy Dù vào tháng 6 năm 1972
Tổng Thống Bổ Nhiệm, Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù tháng 10 năm 1972
Cho đến những ngày cuối cùng của cuộc chiến Viet Nam .


Huy Chương
Đệ Tam Đẳng Bảo Quốc Huân Chương,
Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương,
Đệ Ngủ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương,
21 Anh Dủng Bội Tinh với nhành dương liểu,
6 ngôi sao vàng , bạc va đồng ,
3 Chiến Thương Bội Tinh,
Two Silver Stars with V Device –1971-1972,
Three Bronze Star with V Device – 1967-1968-1970,
One Distinguished Flying Cross and
One Air Medal.


Thăng Cấp
Thiếu Úy 1 tháng 6 năm 1954.
Trung Úy 1956
Đại Úy 1963
Thiếu Tá 1966
Trung Tá 1968
Đại Tá 1970
Chuẩn Tướng 1972.


Sự tiến thân lần lượt qua nhiều chức vụ từ Tiểu Đội Trưởng đến Tiểu Đoàn Trưởng, rồi Lữ Đoàn Trưỡng sau cùng là Tư Lệnh Sư Đoàn do sự cố gắng cương quyết không ngừng nghĩ trong 21 năm dài . Dấn thân cùng các Chiến Hữu cam khổ chiệu đựng tinh thần lẫn thể xác để phục vụ đơn vị . Góp công sức để xây dựng môt đơn vị thiện chiến nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Thật là một Kỳ Công xin được biết ơn và lòng ngưỡng mộ tri ân .

Hình chụp gia đình trong Sinh Nhật Tướng Lê Quang Lưỡng và ngày công nhận Nghĩa Tử Phạm Hòa Nha Kỹ Thuật

 Các con cháu say mê vũ khí và Quân Phục triễn lãm trong ngày sinh nhật và công nhận Nghĩa Tử Phạm Hòa tại Nam California


Qua những hình ảnh trong Blog http://LeQuangLuong.blogspot.com
Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng rất yêu quý sinh họat QLVNCH cho đến ngày cuối đời, ông dặn dò mọi người trong gia đình trong đám tang ông muốn đơn giản không linh đình để tỏ lòng tri ân đến những anh hùng của QLVNCH đã nằm xuống trên quê hương.
Ông không hề dặn dò gia đình không làm lễ Phủ Quốc Kỳ VNCH họac cấm quân nhân mặc quân phục tham dự trong đám tang của ông. Tôi và Thiếu Úy Trần Việt Huệ Nha Kỹ Thuật đã làm nghi thức gấp quốc kỳ VNCH và dâng lên bàn thờ của trước sự chứng kiến của Bà Lê Quang Lưỡng và mọi người trong gia đình. Khi bà Lê Quang Lưỡng biết tin không có lễ phủ quốc kỳ cho ông, bà và người con gái lớn đã giận dữ khi nghe tin này.
Người em gái của Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng và 2 vị Sĩ Quan Nhãy Dù mà ông đã không liên lạc trong những ngày cuối đời của ông đã không hội ý Bà Lưỡng cho những quyết định lầm lẫn này.
Trong khi tham dự đám tang của Trung Tướng Nhảy Dù Dư Quốc Đống bà Lê Quang Lưỡng đã ân cần và nói lời xin lỗi của Má đến việc không phủ quốc kỳ VNCH cho Ba con và 2 vị Cựu Sĩ Quan Nhảy Dù  gây khó khăn cho chúng tôi khi mặc Quân Phục Nha Kỹ Thuật và làm lễ gấp quốc kỳ VNCH trước Linh Cữu của Cố Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng.
Ngày 21 tháng 9 năm 2013 Tướng Lưỡng cũng là người Ba của chúng tôi đã ra đi 8 năm, vì quá thương ông người anh hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nên chúng tôi giữ im lặng trong những năm qua về những tin đồn thất thiệt đăng tải luân lưu trên internet và trên các Diễn Đàn để tỏ lòng thành kính với người quá cố.
Ông là môt Sĩ Quan Tác Chiến từ lúc ra trường với chức vụ Trung Đội Trưỡng cho đến lúc ông là Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đòan Nhảy Dù. 
Trong 21 năm chiến tranh Việt Nam, biết bao máu của chiến hữu ông đã đổ xuống cho quê hương Việt Nam thân yêu
và ông chứng kiến biết bao Lễ Phủ Quốc Kỳ VNCH của đồng đội.
Ông yêu quý chúng tôi và muốn được làm người Ba của chúng tôi vì ông yêu bộ quân phục và những sinh họat Vinh Danh QLVNCH mà ông luôn gặp chúng tôi trong những sinh họat CQN/QLVNCH tại Nam Cali .

Những tin tức luân lưu trên Internet về lời trăn trối của ông
không muốn phủ Quốc Kỳ VNCH trong đám tang và cấm mặc Quân Phục trong đám tang ông là ngụy tạo và phản sự thật.
và ngưng ngay các tin tức vô trách nhiệm đến người quá cố.


Trân trọng,

Nghĩa Tử Cố Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng
Cựu Thiếu Úy Phạm Hòa Đ72/SCT Nha Kỹ Thuật
Hội Trưởng Hội Nha Kỹ Thuật Nam California
Founder Hội Bảo Tồn Truyền Thống QLVNCH
 

Thiếu Úy Trần Việt Huệ và Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng



Bài đọc của Nghĩa Tử Chuẩn Tướng Lê Quang Trưởng trong đám tang tại Bakerfield California



XIN DÂNG TẶNG ĐẾN LINH HỒN THIẾU TƯỚNG LÊ QUANG LƯỠNG
(21 Tháng 9 năm 2005)


Ba thương mến,


(một trong những hạnh phúc nhất của Ba là đọc thư con cháu, hôm nay xin mạn phép cùng quý vị, để gửi đến Ba tôi những tâm tình chia sẽ thành thật kính chào và cám ơn quý vị)


Con gặp lai Ba trong những khoãng cui của cuộc đời, thời gian tuy ngắn ngủi nhưng thật trọn vẹn, những hình ảnh đẹp sẽ mãi mãi ghi sâu vào tâm thức và s lưu lại với con. Ba mươi năm trước đây Ba đã giã từ cuộc chiến và cuộc chiến ấy vẩn âm thầm theo đuổi trong tâm trí, trong từng hơi thở, trong nhịp đập của con tim, những thổn thức đêm dài, cho thân phn, cuộc đời và hôm nay cũng vừa tròn ba mươi năm, Ba đã thực sự ra đi, từ giã trong cái nhẹ nhàng và để lại cho gia đình, má và các con nhiều nhớ thương vô vàn miên viễn.


Tiễn Ba đi hôm nay con mặc chiếc áo mà 30 năm trước khi rời quê hương một chiến hữu đã trao tặng trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến Việt Nam, con đã ấp ủ và mang theo như tình thương trìu mến Ba đã dành cho con, chiếc áo tuy sờn vai, theo tháng năm và giòng đời nghiệt ngã của nó nhưng vẫn còn tồn tại như lòng sắt son của Ba, tuy bạc màu nhưng vẫn gi được nét hùng tráng của một thời oanh liệt xa xưa, chiếc áo cũng là biểu tượng của Ba đã trao cho con, vẫn cái tinh túy của một chiến sĩ, một con người và tình thương cho nhân loại.


Chiếc mủ đỏ với cánh dù mà con đội trên đầu hôm nay cũng vừa tròn 30 tuổi , cánh dù tuy đã tả tơi nhưng vẫn âm thầm che chở , cho vận mạng và cuộc đời còn lại, như cánh dù của Ba cũng tung bay khắp miền quê hương đất nước và che ch cho gia đình cho đồng đội và bảo bọc tình yêu quê hương đất nước.


30 năm ba sống cuộc đời thầm lặng để bão tồn khí khái của một chiến sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa, cũng như nhiều người đã thường hỏi con, Anh Hùng của Quân Lực Việt Nam cộng Hòa là ai ? con trả lời họ nhiều lắm, ở chung quanh ta, ở khắp mọi nơi, họ chiến đấu anh hùng trong cuộc chiến và sống rất thầm lặng sau cuộc chiến, rồi ra đi âm thầm mang theo tất cả vào lòng đất.


Tiễn Ba đi hôm nay không có nghi lễ trang trọng như lời Ba thường nhắn nhủ mọi người trong gia đình, Ba muốn dành những trang trọng đó cho những Chiến Sĩ và anh hùng đã nằm xuống trên quê hương, con ch gữi đến Ba Lá Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa mà Ba thường ấp ủ trong tim, một cánh Dù để Ba tung bay trên khắp mọi miền của Đất Nước, Ba sẽ về thăm lại bao chiến hữu của Ba hơn một lần đã nằm xuống trên quê hương, với ôm ấp đem tự do và an lành cho nhân loại.

Con xin chúc Ba được
THƯỢNG LỘ BÌNH AN và TỔ QUỐC GHI ÂN .


Con của Ba
Thiếu Úy Phạm Hòa
Trưởng Toán Thám Sát 723 / Nha Kỹ Thuật / QLVNCH




Tuesday, September 21, 2010

Tóm Lược Tiểu Sử và THÀNH TÍCH của SƯ ĐOÀN NHẢY DÙ - QLVNCH

các đơn vị Nhảy Dù Việt Nam đầu tiên được thành lập như sau:

Giai Đoạn I (Với các cấp Chỉ Huy người Pháp)
Tiểu Đoàn 1 Nhảy dù được thành lập ngày 1 tháng 8 năm 1951 tại Chí Hoà Saigon.
Tiểu Đoàn 4 Nhảy Dù được thành lập ngày 1 tháng 4 năm 1952 tại Đà Nẳng.
Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù được thành lập ngày 1 tháng 9 năm 1952 tại Trường Bưởi , Hà Nội.
Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù được thành lập ngày 1 tháng 9 năm 1953 tại Trường Bưởi Hà Nội .
Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù được thành lập ngày 1 tháng 9 năm 1953 tại Hà Đông , Hà Nội.
Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù được thành lập ngày 1 tháng 3 năm 1954 tại Chí Hoà, Saigon.
Trong thời gian này các cấp chỉ huy vẩn là người Pháp đãm nhiệm.
Liên Đoàn
Giai Đoạn II (Do Các cấp Chỉ Huy Người Việt Nam)
Binh Chủng Nhảy Dù Việt Nam chính thức được thành lập
ngày 1 tháng 5 năm 1954 tại Nha Trang với cấp Liên Đoàn Nhảy Dù (Groupement Aéroportés Vietnamien, G.A.P.VN) do Thiếu Tá ĐỖ CAO TRÍ chỉ huy.
Đại Đội Quân Y Nhảy Dù được thành lập năm 1957.
Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù được thành lập ngày 1 tháng 12 năm 1958 tại Tân Sơn Nhất, Gia Định.
Lu Doan
Giai Đoạn III (Cấp Lữ Đoàn)
Ngày 26 tháng 10 năm 1959, Liên Đoàn Nhảy Dù được nâng lên thành Lữ Đoàn Nhảy Dù Việt Nam.
Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù được tái thành lập ngày 1 tháng 12 năm 1961.
Chiến Đoàn 1 & 2 được thành lập ngày 1 tháng 1  năm 1962
Tiểu Đoàn 2 được thành lập ngày 1 tháng 9 năm 1965.
Tiểu đoàn 1 Pháo Binh Nhảy Dù được thành lập ngày 1 tháng12 năm 1965.
Su Doan
Giai Đoạn IV (Cấp Sư Đoàn)
Lữ Đoàn Nhảy Dù được nâng lên thành SƯ ĐOÀN NHẢY DÙ VIỆT NAM ngày 31 tháng 12 năm 1965
Đại Đội 1 Trinh Sát Nhảy Dù đươc thành lập  ngày 31 tháng 12 năm 1965.
Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù được thành lập năm 1966 cùng lúc với Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Nhảy Dù.
Tiểu Đoàn Quân Y và Bệnh Xá Đổ Vinh được thành lập ngày 1 tháng 12 năm 1966.
Chiến Đoàn 3 Nhảy Dù được thành lập ngày 1 tháng 6 năm 1968
3 Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn được nâng lên thành 3 Lữ Đoàn Nhảy Dù và 3 Đại Đội Công Vụ, đồng thời  Đại Đội 2 Trinh Sát Nhảy Dù v à Tiểu Đoàn Công Binh Nhảy Dù cũng được thành lập cùng lúc.
Tiểu Đoàn Yễm Trợ được thành lập ngày 1 tháng 8 năm 1968.
Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Nhảy Dù được thành lập năm 1969 cùng lúc với Đại Đội 3 Trinh Sát Nhảy Dù.
Tiểu Đoàn Truyền Tin Nhảy Dù được thành Lập năm 1970 cùng lúc với Biệt Đội Tác Chiến Điện Tử.
Ngày 1 tháng 1 năm 1975, Lữ Đoàn 4  & Lữ Đoàn 5 Nhảy Dù được thành lập với  các tiểu Đoàn:
Lữ Đoàn 4 : gồm Tiểu Đoàn 12, 14 và 15.
Lữ Đoàn 5: gồm Tiểu Đoàn 16, 17 và 18.
Cùng Tiểu Đoàn 4 Pháo Binh Nhảy Dù và Đại Đội 4 Trinh Sát Nhảy Dù
SƯ ĐOÀN NHẢY DÙ ĐƯỢC CHỈ HUY BỞI CÁC VỊ TƯ LỆNH
Đại Tá    ĐỔ CAO TRÍ – 01-09-1954  --  1956
Đại Tá    NGUYỄN CHÁNH THI   –   01-09-1956  -- 1960
Thiếu Tướng     CAO VĂN VIÊN   –  12-11-1960  -- 1964
Trung Tướng    DƯ QUỐC ĐỐNG   –   19-12-1964  --  1972
Chuẩn Tướng   LÊ QUANG LƯỠNG   –   01-11-1972  --  30-04-1975

 
 
Tóm Lược Tiểu Sử và THÀNH TÍCH của SƯ ĐOÀN NHẢY DÙ
(Trích trong Tiểu Sử 19 năm Sư Đoàn Nhẩy Dù xuất bản năm 1974)
Thành lập ngày 1-5-1955 với 4 Tiểu Đoàn tác chiến 1, 3, 5, 6 Nhẩy Dù và Tiểu Đoàn Trợ chiến gồm 4 Đại Đội Chỉ huy, Công vụ, Kỹ thuật, Súng cối, Công binh, và Phân Đội Truyền Tin, sau 4 năm hành quân công tác, Liên Đoàn Nhẩy Dù được cải danh Lữ Đoàn Nhẩy Dù kể từ 1-12-1959.
    Để có khả năng đáp ứng theo nhu cầu đòi hỏi của chiến trường, cũng như tương xứng với lực lượng Tổng trừ bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Các đơn vị được tuần tự thành lập tổ chức:
    Giải tán Tiểu Đoàn Trợ Chiến, các Đại Đội trực thuộc Tiểu Đoàn này trở thành Đại Đội Biệt Lập, Phân Đội Truyền Tin thành Đại Đội, và thành lập thêm Đại Đội Quân Y.
    Cũng trong năm 1959 Tiểu Đoàn 8 Nhẩy Dù và Bộ Chỉ Huy căn cứ Hoàng Hoa Thám, Tổng Hành Dinh của Sư Đoàn Nhẩy Dù hiện nay được thành lập, cuối năm 1961 tái lập Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù.
          Tình hình chiến sự mỗi ngày thêm khẩn trương, các Tiểu Đoàn Nhẩy Dù thường xuyên tăng phái dài hạn cho các vùng, Khu chiến thuật. do đó 2 bộ chỉ huy Chiến Đoàn 1 và 2 Nhẩy Dù được thành lập ngày 15-1-1961 để trực tiếp chỉ huy các Tiểu Đoàn trong nhiệm vụ chiến thuật.
    Theo đà tiến triển của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, các Tiểu Đoàn Nhẩy Dù ngoài nhiệm vụ chiến đấu còn cố gắng kiện toàn nhân sự, nghiên cứu tổ chức nội bộ cho phù hợp với sự lớn mạnh không ngừng của Quân Đội. Bởi thế, cuối năm 1965 Bộ Tổng Tham Mưu đã chấp nhận đề nghị của Bộ Tư Lệnh Lữ Đoàn Dù cho thành lập thêm Tiểu Đoàn 2, Tiểu Đoàn 9, Tiểu Đoàn Pháo Binh và Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn 3 Nhẩy Dù.
 Với 8 Tiểu Đoàn tác chiến, 3 Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn, 1 Bộ Chỉ Huy Tổng Hành Dinh, 1 Tiểu Đoàn Pháo Binh, 6 Đại Đội Yểm trợ hành quân tiếp vận và 2 Trung Tâm Huấn Luyện, Lữ Đoàn Nhẩy Dù thành Sư Doàn Nhẩy Dù kể từ ngày 01-12-1965.
    Từ ngày thành lập Sư Đoàn đến nay. Trong khoảng thời gian này chiến trường trở nên sôi động ác liệt. Luôn luôn chiến đấu hăng say diệt địch là nhiệm vụ thông thường của người Chiến Binh Mũ Đỏ. Song song với nhiệm vụ chiến đấu ngoài mặt trận, Sư Đoàn Nhẩy Dù còn cải tiến không ngừng trong công tác xây dựng đơn vị.
    Tinh thần cầu tiến, ý chí đua tranh là động lực chính trong công tác hằng ngày, các đơn vị lại được tiếp tục thành lập để tổ chức của Sư Đoàn ngày thêm vững chắc.
  •       Ngày 1-12-1967 Tiểu Đoàn 11 Nhẩy Dù ra đời,  Ngày 1-5-1968 Chiến Đoàn 1,2,3 Nhẩy Dù cải danh  thành Lữ Đoàn, Mỗi Lữ Đoàn có 3 Tiểu Đoàn trực thuộc, 

    1-6-1968 Tiểu Đoàn Quân Y  
    1-7-1968 Tiểu Đoàn Yểm Trợ
    1-1-1969 Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh
    1-8-1970 Đại Đội Truyền Tin biến cải thành Tiểu Đoàn
  • 12-8-1970 tiếp nhận Đại Đội 5 và 6 Biệt Cách sát nhập Sư Đoàn, cải danh Đại Đội 2 và 3 Trinh Sát Nhẩy Dù
    Cho đến nay Sư Đoàn đã có 3 Lữ Đoàn Nhẩy Dù gồm 9 Tiểu Đoàn tác chiến, Bộ Chỉ Huy Tổng Hành Dinh, Bộ Chỉ Huy Pháo Binh với 3 Tiểu Đoàn trực thuộc, Tiểu Đoàn Quân Y, Tiểu Đoàn Yểm Trợ, Tiểu Đoàn Truyền Tin, Tiểu Đoàn Công Binh, Đại Đội Khoá sinh Vương Mộng Hồng, 3 Đại Đội Trinh Sát, Đại Đội Tổng Hành Dinh, Đại Đội 204 Quân Cảnh, Trung Tâm Huấn Luyện Nhẩy Dù, Khối Bổ Sung, Bệnh viện Đỗ Vinh để điều trị thương bệnh binh Nhẩy Dù, đó là kết quả tổ chức của Sư Đoàn Nhẩy Dù cho đến 1974.
    Trên phương diện hành quân, kể từ ngày thành lập, các đơn vị Sư Đoàn Nhẩy Dù đã tham dự hơn 30,000 cuộc hành quân lớn nhỏ: Nhẩy dù, trực thăng vận, hành quân bộ v.v.
    Gót chân người Chiến Sĩ Nhẩy Dù đã dẫm nát các căn cứ hậu cần, các mật khu trên lãnh thổ 4 Quân khu. Sức mạnh của các Chiến Sĩ Nhẩy Dù đã tiêu diệt hàng trăm đơn vị chính quy Cộng Sản Bắc Việt, và địa phương.
      Tổng số địch bị hạ, bị bắt, và ra quy chánh lên đến hơn 50,000 tên, trong số này có nhiều cán bộ quân sự và chính trị cao cấp như Trung đoàn trưởng, Tiểu đoàn trưởng, Tỉnh ủy, Huyện ủy, Ủy viên Kinh tài và hơn 50,000 vũ khí cộng đồng và cá nhân quân ta tịch thu, cùng với hàng trăm tấn quân trang quân dụng đạn dược, đây là chưa kể hàng trăm ngàn doanh trại, cơ sở, hầm hố, địa đạo của giặc Cộng bị các Chiến Sĩ Nhẩy Dù phá hủy.

Tân Sơn Hòa chuyển

Tuesday, July 20, 2010

Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng






Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng
Tướng Lê Quang Lưỡng.
Tướng Lê Quang Lưỡng sinh năm 1932 quê tại tỉnh Bình Dương. Thời niên thiếu, học hết bậc Tiểu học tại tỉnh nhà ông lên Sài Gòn theo học tại Trường Trung Học Petrus Ký. Sau khi lấy bằng Thành Chung ông gia nhập vào quân đội và xuất thân Khóa 4 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, cùng khóa với Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Chuẩn Tướng Hồ Trung Hậu, Đại Tá Lê Văn Phát…Ngay khi vừa mãn khóa vào ngày 1 tháng 06 năm 1954 ông tình nguyện sang Binh Chủng Nhảy Dù và được gởi ngay ra Bắc bổ sung cho Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù với chức vụ Trung Đội Trưởng của Đại Ðội 52 ND. Từ đó ông đã trải qua các chức vụ chỉ huy từ cấp Trung Đội Trưởng (Thăng cấp Trung Úy tháng 6/1956), Đại Đội Trưởng (Thăng cấp Đại Úy tháng 11/1963), Ban 3 Tiểu Đoàn rồi Tiểu Đoàn Phó. Năm 1965 Ông được đi du học về “Tác Chiến Trong Rừng Núi Sình Lầy” tại Mã Lai Á. Tại quân trường ông đã trình bày chiến thuật tấn công và tác chiến theo quan điểm của riêng ông được tất cả các Huấn luyện viên đều chú ý và thán phục. Đến tháng 9/1965, về nước với bằng tốt nghiệp Thủ Khoa, ông được Tướng Dư Quốc Đống chỉ định nhiệm vụ thành lập và giữ chức Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2ND tại Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Vạn Kiếp ở Bà Rịa. Trong buổi lể xuất quân của TĐ2ND vào tháng 1/1966, Đại Tá Lý Thái Như Chỉ Huy Trưởng TTHL/QG Vạn Kiếp đã Chủ Tọa và trao gắng cấp bậc Thiếu Tá cho Ông.
Sau buổi lể xuất quân, Tiểu Ðoàn 2 ND về trấn giữ vòng đai Biệt-Khu-Thủ-Ðô vừa chỉnh trang đơn vị, vừa tái huấn luyện tại chỗ. Chính ông đã đứng ra hướng dẩn tất cả Sĩ quan cũng như binh sĩ về chiến thuật và kỹ thuật tác chiến của Nhảy Dù và ngay sau đó TĐ2ND đã tham chiến tại khu phi chiến, tại đồi 1416 trên đỉnh Ngok Wank quân khu II, tại khắp các mặt trận ở các quân khu và đã từng gây kinh hoàng cho các đơn vị CS không thua bất cứ một đơn vị Nhảy Dù kỳ cựu nào khác.
Cuối năm 1967, ông sang Okinawa du khảo và học hỏi về Chiến thuật phản tình báo và chống chiến tranh du kích. Ngày 25/1/1968, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Lữ Ðoàn Trưởng Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù thay thế Trung Tá Hồ Trung Hậu, đánh đuổi quân Cộng Sản ra khỏi Huế và Quảng Trị trong trận chiến “Tổng Công Kích năm Mậu Thân” của CS. Sau trận nầy ông được thăng cấp Trung Tá tại mặt trận vào tháng 4/1968. Và cũng trong chức vụ LĐT/LĐIND ông được thăng cấp Ðại Tá tại mặt trận vào tháng 9/1969 sau các cuộc hành quân tại Tây Ninh để tiêu diệt các đơn vị CS lẩn khuất trong khu vực Chiến Khu C và đưa chiến trường ra khỏi lảnh thổ Quân Khu III qua bên kia biên giới.
Kể từ đây, ông đã tham gia hầu hết các cuộc hành quân làm nên lịch sử của SĐND, như là Chiến dịch Bình Tây Kampuchea 1970, Hành Quân Lam Sơn 719 trên đất Lào vào tháng 02 năm 1971, giải vây An Lộc tháng 4/1972, Hành Quân Lam Sơn 72 trong chiến dịch Lôi Phong tái chiếm Quảng Trị vào tháng 06 năm 1972, và cuộc hành quân tái chiếm Thường Đức vào tháng 08 năm 1974. Trong ba cuộc hành quân đầu, Tướng Lưỡng đã tham dự với tư cách Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, trong các cuộc hành quân về sau Tướng Lưỡng đã điều quân với tư cách là Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù.
Trong trận chiến giải vây An Lộc năm 1972, tài điều binh của ông đã được đưa vào chương trình nghiên huấn của Trường Quân Sự Command and General Staff College (Đại Học Chỉ Huy & Tham Mưu) ở Fort Leavenworth, tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ sau hai danh tướng Tôn Tử, một thiên tài quân sự nổi tiếng của Trung Hoa thời Xuân Thu Chiến Quốc (722 – 480 TCN) và Erwin Rommel (1891 – 1944 có biệt danh là "the Desert Fox") một tướng lảnh lừng danh của Đức Quốc Xả vào đệ nhị thế chiến.
Trong trận chiến nầy ông đã phối hợp chiến thuật phân tán mỏng các đơn vị Nhảy Dù để bao vây, dùng các Tổ Khinh Binh đột kích vào các chốt của CS rồi dùng Phi Pháo và Pháo Binh tiêu diệt địch để phá vở chiến thuật Chốt Kiềng của CS tại suối Tàu Ô cũng như tại cửa ngỏ Sóc Gòn của An Lộc.
Đại Tá Lê Quang Lưỡng đã áp dụng yếu tố bất ngờ một cách táo bạo và thành công khi đổ quân Nhảy Dù xuống Sóc Ton Cui cạnh Đồi Gió để làm đầu cầu, rồi tiến vào An Lộc. Ông cũng đã nghi binh đánh lạc hướng địch quân khi liên lạc bằng hệ thống âm thoại báo cho Tướng Hưng rằng ông sẽ không vào An Lộc mà ngày mai Quân Đoàn sẽ đưa một đại đơn vị nhảy xuống phía Bắc An Lộc tấn công vào Đồi Đồng Long vào giải cứu các đơn vị bị bao vây. Ông được Tướng Minh Tư Lịnh Quân Khu III đặt trọn niềm tin và giao cho Ông trọn quyền quyết định sách lược.
Với kinh nghiệm lão luyên trên chiến trường của một “Quân Đội con nhà nghèo” với sự yểm trợ tích cực của người bạn đồng minh, ông đã sử dụng tài tình và hiệu quả lối đánh thần tốc của các Chiến Binh Nhảy Dù với hỏa lực vô tiền khoáng hậu của phi pháo và các pháo đài bay B52 để tiêu diệt các đơn vị CS, để giải vây cho các đơn vị thuộc quyền, để mở rộng vòng đai và rồi hoàn toàn giải tỏa An Lộc.
Tháng 6 năm 1972, Đại Tá Lê Quang Lưỡng được đề cử chức vụ Phụ-Tá hành-quân cho Tư Lệnh Sư Ðoàn Nhảy Dù là Trung Tướng Dư Quốc Đống trong chiến dịch Lôi Phong tái chiếm Quảng Tri. Cuối tháng 8 năm 1972, ông được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thăng cấp Chuẩn Tướng, và sau đó ông được bổ nhiệm giữ chức Tư Lệnh Phó, xử lý thường vụ chức vụ Tư Lệnh SĐND. Lúc bấy giờ Bộ Tư Lệnh Hành Quân Sư Đoàn Nhảy Dù đặt tại căn cứ Hiệp Khánh, cách Huế 17 km về phía Bắc.
Tháng 11 năm 1972, Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng chính thức được chỉ định làm Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù cũng là vào lúc VNCH đang đi vào một giai đoạn cực kỳ khó khăn nhất trong lịch sử. Sư Đoàn Nhảy Dù do ông chỉ huy đã phải đương đầu với bao nhiêu thử thách từ phía Cộng quân cũng như từ phía Đồng Minh và nội bộ của VNCH. Nhưng ông luôn giữ đúng phong cách của một vị chỉ huy, thi hành trách nhiệm được giao phó một cách hoàn hảo và suốt đời tận tụy hy sinh cho tổ quốc đến những ngày cuối tháng 4/1975.
Trận đánh để đời sau cùng của ông là trận Thường Đức từ tháng 8/1974 đến tháng 11/1974 ông đã áp dụng chiến thuật Xa Luân Chiến để 3 Lữ Đoàn Nhảy Dù luân phiên giao tranh và gây thiệt hại nặng nề cho hai SĐ324B, SĐ304 và một Trung Đoàn của SĐ2CSBV cùng các lực lượng địa phương.
Năm 1975 vào những ngày tháng lịch sử của VNCH, lệnh từ trung ương bỏ quân Đoàn I và rút Sư Đoàn Nhảy Dù về Sài Gòn. Một tin chấn động cho toàn quân, toàn dân và sự kinh hoàng tột độ ấy đã mở đầu cho sự tan rã ồ ạt sau đó.
Hơn thế nửa, kể từ ngày SĐND được bốc khỏi Vùng I, quyền chỉ huy chiến thuật binh chủng Nhảy Dù, quyền xử dụng các chiến binh Nhảy Dù cũng vượt ra khỏi tầm tay của vị Tư Lệnh. Các đơn vị Nhảy Dù đã bị xé ra từng mãnh. Mỗi đơn vị một nơi rồi lần lược bị tan hàng.
Ngày 29 tháng 4 năm 1975 Tướng Lưỡng di tản sang Hoa Kỳ, với nỗi ngậm ngùi: “Sầu hận của tim ta ai biết được. Người tươi vui ta mãi mãi căm hờn”.
Và sau đó ông định cư tại thành phố Hampton tiểu bang Virginia, đến năm 1979 ông cùng gia đình di chuyển về California thành phố Baker Field cho đến cuối đời.
Trong khoảng thời gian từ 1976 đến những năm 1982 ông có tham dự vào một số sinh hoạt trong nỗ lực trở lại VN tổ chức lực lượng kháng chiến nhưng tiếc rằng Trời đã không chiều lòng người. Sau này ông lui dần vào im lặng và ít khi lên tiếng. Ông cũng thường sinh hoạt và gần gũi với Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam từ năm 1980.
Năm 1990 ông cùng Tướng James B.Vaught Hoa Kỳ dẫn đầu đoàn diễn hành của Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam trên đại lộ Constitution, Washington D.C cùng với các đơn vị Nhảy Dù của 32 quốc gia bạn, nhân ngày kỷ niệm 50 năm thành lập binh chủng Nhảy Dù Hoa Kỳ. Nhảy Dù là đơn vị của QLVNCH đầu tiên và duy nhất từ trước cho đến thời điểm nầy, được mời chính thức rước ngọn cờ Vàng ba sọc Đỏ giữa lòng thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Hai bên đường dân chúng Hoa Kỳ và đồng bào Việt Nam tỵ nạn Cộng Sản, đón tiếp và cổ võ nồng nhiệt.
Ngày 21/9/2005 Tướng Lê Quang Luỡng đã qua đời tại Bakefield California vì chứng bệnh Gan, thọ 73 tuổi, để lại nhiều luyến thương sâu xa cho đoàn quân Mũ Đỏ. Đến phút cuối, ông nhất định không cho phủ Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ lên “quan tài của một bại tướng lưu vong”, ông cũng trăn trối không nhận vòng hoa đưa đám, chỉ nhận tiền mặt để gởi về quê nhà giúp các đàn em thương tật. Tinh thần Tổ Quốc – Danh Dự - Trách Nhiệm và “Huynh Đệ Chi Binh” của người Anh Cả Mũ Đỏ không ai có thể cao hơn thế được. Tại San José California, một Cựu Chiến Binh Nhảy Dù - Định Thế 405 - đã thương khóc ông:
“Người đi…
Cây cỏ buốt đau thương!!!
Anh hùng Lê Quang Lưỡng.
Bàng hoàng…Nghĩ chừng vô tưởng.
Vị Tướng lãnh hào hùng,
Dẫn đầu quân binh Mũ Đỏ.
Đã bỏ trần gian,
Vội vàng không giã biệt.
Âm âm lạnh, lòng nhói đau da diết,
Thương hơn thương, tử biệt cõi sinh phù.
Hởi Thiên Thần máu đỏ thắm thiên thu,
Tim bất khuất, đời Hoa Dù vay trả.
Nghiệp cả trả chưa xong,
Đục trong trời phiêu lãng.
Ba mươi năm,
Những buổi chiều bàng bạc.
Cánh hạc thẫn thờ bay,
Cuộc đời nầy đen trắng.
Cả quá khứ đầy hận thù cay đắng,
Quê hương ơi chất nặng nghiệp linh hồn.
Vó ngựa chân bon…
Những bồn chồn từng thu qua chết lặng,
Vệt nắng vàng hoang vắng gió heo may.
Việt Nam ơi ! cả dân tộc đang quay,
Trận bảo lốc hay cơn say nghiệt ngã.
Ba mươi năm,
Khắp địa cầu xa lạ.
Đoàn Thiên Thần nghiêng ngã dắt dìu nhau.
Gượng cười thôi tim quằn quại thương đau.
Mỗi một bước vạn cơn sầu gậm nhấm.
Ba mươi năm,
Vàng đỏ đen tím xậm,
Nét kiêu hùng vẫn ẩn chứa trong tim.
Chưa bao giờ ta thật sự đứng im.
Dù một phút, nghĩ, chìm trong dĩ vãng.
Nhưng hôm nay bầu không gian ảm đạm,
Quân kỳ buồn, rủ xuống tiễn anh linh.
Quốc kỳ bay, tung ngao nghễ không thinh,
Lệnh kỳ bó, vành khăn tang đơn lạnh.
Hoàng Hoa Thám, mùa Trung Thu hiu quạnh.
Vì toàn quân mất vị Tướng anh hùng.
Quê hương ta mất dũng sĩ tận trung,
Và Tổ Quốc mất người hùng Mũ Đỏ.
Ba mươi năm,
Chiến trường ta còn đó,
Tư Lệnh ơi…Ông bỏ chúng tôi rồi ! ! !
Thế là xong…Thật ngắn ngủi kiếp đời,
Thoáng đấy, mới đây, gió trời mưa đất.
Vùng trắc ẩn rồi ai còn ai mất,
Nghĩa tử ly, oan khuất mủi thương mình.
Định thế nào, là thảm bại quang vinh,
Thua hay thắng, thường tình trong dĩ nghiệp.
Mỗi Mũ Đỏ là lương tri thông điệp,
Để toàn dân phải ngưỡng mộ tri ân.
Họ đã tặng đời tim óc, xác thân,
Trong biển lửa, giữa gian trần bạc bẽo.
Cánh Dù rơi… Nơi xứ người lạnh lẽo,
Thiên Thần buồn réo khúc nhạc bi ai.
Cánh dù bung từng ôm cả chí trai,
Gom hoài bảo miệt mài trang dũng kiệt.
Kính ông Tướng…Trời tạm dung đơn độc,
Ngưỡng mộ anh hồn bay bổng sao băng.
Nơi mù xa vùng sinh tử trầm thăng,
Ông thanh thoát đất vĩnh hằng vô tận”
Vĩnh biệt Tư Lệnh.
Vĩnh biệt Đích Thân!!!
Đinh Thế - 405
Tài liệu Tham khảo:
-Phỏng vấn các Chiến Hữu trong SĐND.
-Những tin tức do Anh Lê Quang Đức, con của Tướng Lưỡng cung cấp.
-Thiên Thần Mũ Đỏ Ai còn " Ai mất " của Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng trên trang nhà www.nhaydu.com.
-Bài Văn Tế Tướng L ê Quang Lưỡng của Định Thế 405 – Giám Đốc Võ Thuật SĐND, Đại Đội Trưởng 90.
-Bài Điếu Văn của Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức đọc trong Lể Truy Niệm tại Bakerfield 11/2005
Võ Trung Tín - Nguyễn Hữu Viên (Cập nhật ngày 1/9/2008)

Ai Con Ai Mat / Thieu Tuong Le Quang Luong





THIÊN THẦN MŨ ĐỎ

Ai còn ? Ai mất ?

Mũ Đỏ Lê Quang Lưỡng.

LTS. Tướng Lê Quang Lưỡng Tư Lệnh sau cùng của Sư Đoàn Nhảy Dù Việt Nam, Ông xuất thân từ Khóa 4 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, cùng khóa với Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Chuẩn Tướng Hồ Trung Hậu................Tướng Lê Quang Lưỡng phục vụ trong Binh Chủng Nhảy Dù Việt Nam từ ngày 15 tháng 6 năm 1954 với cấp bậc thiếu úy Trung Đội Trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, ngày 1 tháng 9 năm 1965 với cấp bậc Thiếu Tá, ông thành lập Tiểu Đoàn 2 Nhảy Dù, ngày 1 tháng 1 năm 1968 với cấp bậc Thiếu Tá, ông nhận chức vụ Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, ngày 22 tháng 11 năm 1972 với cấp bậc Chuẩn Tướng, ông nhận chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn Nhẩy Dù, ngày 29 tháng 4 năm 1975 ông di tản sang hoa kỳ, định cư tại thành phố Hampton tiểu bang Virginia, Ông về cõi Niết Bàn ngày 21 tháng 9 năm 2005 tại Bakersfield, miền trung Tiểu Bang California, Ông ra đi sau cơn bệnh ngặt nghèo, kéo dài lâu ngày. Ông để lại luyến thương sâu xa cho đoàn quân Mũ Đỏ.

Ông là vị Tướng, vị Tư Lệnh Nhảy Dù duy nhất sinh hoạt chặt chẽ với Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam từ năm 1980 đến năm 2005; năm 1990 ông cùng Đại Tướng Vaugh Hoa Kỳ dẫn đầu đoàn diễn hành, của Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam, đi diễn hành trên đại lộ Constitution, Washington D.C., cùng với các đơn vị Nhảy Dù của 32 quốc gia bạn, nhân ngày kỷ niệm 50 năm thành lập binh chủng Nhảy Dù Hoa Kỳ, đơn vị của QLVNCH đầu tiên và duy nhất từ trước cho đến nay, được mời chính thức rước ngọn cờ Vàng ba sọc Đỏ giữa lòng thủ đô Hoa Kỳ, hai bên đường dân chúng Hoa Kỳ và đồng bào Việt Nam tỵ nạn Cộng Sản, đón tiếp và cổ võ nồng nhiệt.


Bài " Thiên Thần Mũ Đỏ. Ai còn? Ai Mất?", được báo Hồn Việt xuất bản tại miền Nam Ca Li đăng từ năm 1984, chúng tôi xin đăng lại bài này, với bản thảo chính gốc, chúng tôi hoàn toàn không hiệu đính như những báo khác, kể cả báo Hồn Việt, để anh chị em Mũ Đỏ đọc và suy gẫm, xin các anh chị em Mũ Đỏ: Chúng ta cùng nhau thắp nén hương lòng tưởng nhớ người anh cả của binh chủng Nhảy Dù từ năm 1971-1975.

Tôi vẫn nhớ rõ như mới nhìn thấy hôm qua những khuôn mặt, giọng nói tác phong của những anh em Dù đã cùng tôi vào sinh ra tử. Thiếu Tá Thanh Tiểu đoàn 8 mà đồng đội của người Tiểu Đoàn Trưởng nầy thường gọi là Thanh Râu. Anh em chúng tôi có Thiếu Tá Châu Lùn Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1, Thiếu Tá Hạnh, Hào Hoa Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2, Thiếu Tá Trang Trĩ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3, Trung Tá Bùi Quyền, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 nổi nóng mặt đỏ gay, Thiếu Tá Lô Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 7, biệt danh là Lô Lọ Rượu. Anh em chúng tôi còn có Cậu Út Biên Hòa hay cậu "Bảy Tình" Mười Lựu Đạn tức Trung Tá Thành, Tiểu Đoàn 6, Trung Tá Trần Đăng Khôi Lữ Đoàn 2 tài đức song toàn.

Thiếu Tá Đường TĐ9, thích làm thơ tình lãng mạn, gọi là Đường Thi Sĩ, anh em chúng tôi có Thiếu tá Hồng Thu, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 16 gọi Cô Thu. Chúng tôi có hai Ngọc, Ngọc Long Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 1 và Ngọc Nga, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 4, Làm sao anh em Dù chúng tôi quên được, chúng tôi có 2 người bạn anh hùng, mỗi người chỉ có một mắt. Trung Tá "Bùi Đăng" trong thẻ quân nhân không phải họ "Bùi" cũng chẳng có tên "Đăng", tên anh là Bằng, Anh chỉ có một mắt. Nhưng những chiến sĩ của anh gọi anh một cách âu yếm là Bùi Đăng. Trung Tá Trần Văn Sơn, Lữ Đoàn Phó Lữ Đoàn 2 cũng chỉ có một mắt từ ngày còn là Đại Đội Trưởng Tiểu Đoàn 5, anh em Dù gọi là Hiệp sĩ Mù, tội nghiệp Sơn đã hy sinh trong trận chiến sau cùng tại mặt trận Phan Rang. Chúng tôi có Hiệp sĩ mù của chúng tôi, Hiệp sĩ mù của Thiên thần Mũ Đỏ không xử dụng cùng một loại vũ khí như Hiệp sĩ mù của phim ảnh và tiểu thuyết. Nhưng oai phong người Hiệp sĩ của Quê Hương ta, chẳng thua sút sự hào hiệp của người trong truyện. Chúng tôi có Hiệp sĩ mù, chúng tôi có nhiều lắm. Làm sao quên Đại Tá Nguyễn Thu Lương, anh em thân thương gọi là Lương Ruột Ngựa. Đỉnh Tây Lai, Bố già Đại Tá Lê Văn Phát, người tử thủ Khánh Dương, người lính già có mặt hầu hết những trận lớn của Quê Mẹ? Bố Già Lữ Đoàn 3? Đúng, chúng tôi có Bố Già đó.

Tháng 6/1972, sau trận Bình Long, tôi được trả về Sư Đoàn Dù, ít lâu sau SĐ Dù được đưa ra Đà Nẵng để tăng phái cho Quân Đoàn I. Lúc đó tôi là Lữ Đoàn Trưởng LĐ1 Nhảy Dù. Cùng với LĐ1 ra vùng I có LĐ2 và LĐ3. Thời gian nầy, Trung Tướng Dư Quốc Đống là Tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù.

Sự phân phối các đơn vị Dù tại Quân Đoàn I lúc ấy như sau: Toàn bộ Sư Đoàn Dù ở phía bắc sông Mỹ Chánh, đang tiến quân về hướng Quảng Trị, dọc theo sườn dẫy trường sơn . Tháng 9/1972, tôi được bổ nhiệm làm phụ tá hành quân Tư Lệnh Sư đoàn Nhảy Dù. Vào tháng 8 năm đó, Trung Tướng Dư Quốc Đống bị bệnh, Chuẩn Tướng Hồ Trung Hậu, Tư lệnh phó Sư Đoàn được chỉ định đảm nhận Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh, còn Đại Tá Bảo, Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn thì vừa tử nạn phi cơ, do đó tôi được đảm nhận trách vụ xử lý thường vụ Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù một cách không chính thức. Cuối tháng 8, cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu triệu hồi tôi vào Dinh Độc Lập để làm lễ thăng chức Chuẩn Tướng cho tôi, và sau đó tôi được bổ nhiệm Tư Lệnh phó, xử lý thường vụ chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù đóng tại căn cứ Hiệp Khánh, cây số 17 Bắc Huế. Đến tháng 11/1972, tôi chính thức nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù, thay thế Trung Tướng Đống từ nhiệm vì lý do sức khỏe. Khoảng thời gian 72 đến 75 ải địa đầu của Tổ Quốc của ta không phải là vùng đất bình lặng, Quảng Trị, Thạch Hãn, Chu Lai, Cố Đô Huế. Những danh xưng đủ nói lên những trời giao động. Những người lính chiến được đồng bào gọi một cách âu yếm là "Thiên Thần Mũ Đỏ". Trong suốt thời gian máu lửa đó đã có mặt khắp cùng trên những vùng đất ải địa đầu, cùng anh em quân nhân thuộc các quân binh chủng khác, mang lại cho đồng bào, tuy không phải sự bình yên tuyệt đối cũng là một tình hình khả quan.

Năm 1975 vào những ngày tháng lịch sử, sự phân phối các đơn vị Dù như sau: Hai Lữ Đoàn ở phía nam đèo Hải Vân, một Lữ Đoàn ở phía bắc đèo Hải Vân, chúng tôi đứng vững ở vùng I; Đập những nhịp tim tin tưởng, anh em chúng tôi, một mặt nhìn bao quát tình hình chiến trường khắp nước, một mặt theo dõi mọi tiến thoái của các đơn vị đối phương trong vùng, tay gìm súng sẵn, chờ địch quân. Thói quen tiến vào chỗ chết, thói quen chấp nhận mười thua một ăn mà vẫn chiến đấu oai hùng, đó là đặc tính của anh em Nhảy Dù, mặc dù tin tức giao động đến từ bốn phía, vẫn tiếp tục sẵn sàng chiến đấu, tiếp tục cố gắng.

Lệnh của cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu gọi Sư Đoàn Dù về Sài Gòn hiện ra với tôi, bởi đó như một chấn động. Lúc đó tôi chờ đợi mọi thứ trong tư thế sẵn sàng. Đợi đối phương ào ạt vượt sông Thạch Hãn, đợi chiến xa địch đến đây, miền Trung kiêu hãnh từ những vùng rừng rậm Nam Lào cho đến miền đồng bằng cát trắng Hội An. Nhưng tôi không chờ đợi được điều đó. Lệnh di chuyển Sư Đoàn Dù về Sài Gòn, lệnh không phải chỉ nghe một phía mà từ mọi hướng. Ngày 10.03.1975, Việt Cộng tấn công Ban Mê Thuộc. 11.03.1975 Ban Mê Thuộc thất thủ. Tổng Thống Thiệu gọi Trung Tướng Trưởng vào SàiGòn nhận chỉ thị. Lệnh khủng khiếp, lệnh làm choáng váng, làm tan nát, đó là "Bỏ vùng I". Dường như muốn cho lệnh tổng quát đó được thi hành chính xác, Tổng Thống Thiệu đòi Trung Tướng Trưởng phải tức khắc cho rút Sư Đoàn Dù về Sài Gòn ngay. Cho chắc ăn, Sài Gòn qua lệnh rút Sư Đoàn Dù về, muốn trói tay Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn I. "Trói tay" là một hình ảnh dễ hiểu nhưng có lẽ không đủ nghĩa. Sài Gòn đã lấy mất thanh gươm và chặt hết một cánh tay, cánh tay cầm gươm của Tướng Trưởng khi đối phương bắt đầu tiến tới.

Chỉ sau vài chục giờ sau khi lệnh Tướng Trưởng trả Dù về Sài Gòn, công điện tối mật của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, thay vì do Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng ký, nhưng lại do chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ký gởi cho Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù, hạ lệnh toàn bộ Sư Đoàn Dù rời khỏi miền Trung không chậm trễ. Lúc đó tin Thủy Quân Lục Chiến rút khỏi Quân Đoàn I cũng bắt đầu loan ra.

Ngày 17/03/75, sau khi đã thực hiện đầy đủ những giải pháp kỹ thuật cho các anh em Dù rời miền Trung, chuyển vận, tiếp liệu, an toàn khi ra đi v.v...tôi lên gặp Trung Tướng Trưởng để chào từ giã. Tôi nói với Trung Tướng Trưởng về việc Thủy Quân Lục Chiến cũng sẽ ra đi. Tôi cũng nói lên những lời hàm ý chia sẻ ưu tư của Trung Tướng về sự "Trói tay", sự tước bỏ mọi hỗ trợ trước một trận đánh lớn. Khuôn mặt Tướng Ngô Quang Trưởng, vẫn sẵn ưu tư, càng hiện ra ảm đạm. Ông chỉ cầm tay tôi nói:"Cảm ơn anh và các Anh em Nhảy Dù đã giúp tôi rất nhiều trong những năm qua".

Anh em quân nhân Nhảy Dù nghĩ rằng mình được di chuyển toàn bộ về Sài Gòn. Các Sĩ quan chỉ huy từ Đại Đội cho đến Lữ Đoàn được loan báo là họ được di chuyển về thủ Đô VNCH. Tướng Trưởng được lệnh "trả Sư Đoàn Dù về SàiGòn". Lệnh tôi nhận được cũng rất rõ rệt: Đưa Sư Đoàn Dù về Sài Gòn.

Có thể những sử học trong tương lai cũng tóm tắt sự di chuyển của anh em chúng tôi bằng những dòng chữ "Tướng Thiệu, để chặt tay Tướng Trưởng, để gây cho Dân, Quân miền Trung sự kinh hoàng tột độ, mở đầu cho tan rã ồ ạt, hạ lệnh rút Sư Đoàn Dù ra khỏi tuyến đầu".

Sự việc không hoàn toàn đơn giản như thế. Lệnh rút Sư Đoàn Dù về SàiGòn chỉ là một lệnh bề mặt mà chiều sâu là phân tán Sư Đoàn Dù. Ông Thiệu áp dụng kế hoạch "Bẻ bó đũa" làm tan tành một đoàn quân bách chiến, một Binh chủng oai hùng, xô đẩy những Thiên Thần vào hỏa ngục. 12 Tiểu Đoàn Trưởng trên 18 Tiểu Đoàn, linh hồn của đoàn quân Mũ đỏ hoặc gục ngã ở chiến trường sắp đặt, hoặc rơi vào tay địch, có cả một Lữ Đoàn tan thành mây khói, có cả một Lữ Đoàn đánh đoạn hậu bảo vệ cho đồng bào di tản và tới phiên mình quân trải trên một diện tích rộng lớn, chỉ còn dưới tay được mấy trăm con.

Lệnh tôi nhận được là chia Sư Đoàn Dù ra làm hai nhánh, một đi tàu thủy và một do không vận. Lữ Đoàn 1 và 2 di chuyển bằng phi cơ của Không Lực VNCH. Lữ Đoàn 3 di chuyển bằng tàu HQ-404 của Hải Quân VN. Lữ Đoàn 1 và 2 đến điểm hẹn như ấn định, nhưng Lữ Đoàn 3 không được đưa đến nơi. Khi HQ-404 đến gần Nha Trang thì Hạm Trưởng nhận được lệnh đổ anh em xuống Nha Trang. Tôi chưa kịp ngạc nhiên, nhưng ý tưởng thắc mắc vì sao Tổng Thống Thiệu nói đưa toàn bộ Sư Đoàn Dù về Sài Gòn để rồi phân tán một phần đi nơi khác. Dù vậy, không bao giờ tôi quên được khuôn mặt, mắt liếc xéo, nụ cười khoái trá, giọng nói chứa đựng thỏa mãn, toàn bộ khuôn mặt toát ra một sự khoan khoái kỳ lạ. Cựu Tổng Thống nhìn tôi với tia mắt kỳ lạ đó với nụ cười ở cuối môi, ông nói: "Theo anh liệu Trung Tướng Trưởng có giữ nổi Quân Đoàn I khi tôi rút Sư Đoàn Dù về đây không?".

Mặc dù lệnh lạc lung tung, bảo về Sài Gòn lại đổ xuống Nha Trang, mặc dù bảo về dưỡng quân lại được ném ra mặt trận, là một quân nhân kỷ luật, ý thức được rằng sức mạnh đến từ kỷ luật sắt thép, anh em Lữ Đoàn 3 xuống Cầu Đá Nha Trang là lên đường đi chiến đấu ngay. Đại Tá Lê văn Phát, người nắm Lữ Đoàn 3 cũng là người có biệt hiệu "Bố Già" đặt Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn tại Huấn Khu Dục Mỹ. Nhiệm vụ của Lữ Đoàn 3 là nút chặn địch ở Khánh Dương giúp cho các Đơn vị của Quân Đoàn II rút lui an toàn. Biết rõ sự oai hùng của các Thiên Thần Mũ Đỏ của QLVNCH, Văn Tiến Dũng tung 2 Sư Đoàn với quân số 6 lần, là những SĐ 320 và SĐ 10 đánh bọc ngang hông. Lữ Đoàn 3 Dù bình tĩnh và oai hùng chiến đấu, quất cho quân địch tổn thất nặng nề. Lữ Đoàn 3 còn ở Khánh Dương, địch không thể đi lên một bước. Ngày 28/03, vì quân số đối phương đông gấp 10 lần, nên không thể ngăn chặn vĩnh viễn, vì lệnh Sài Gòn hay vì một lý do nào khác, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đã ra lệnh cho Đại Tá Phát rút Lữ Đoàn 3 từ Nha Trang vào Phan Rang, sau đó lệnh lại được đưa xuống là bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn và các thành phần yểm trợ thì rút về Phan Rang, còn 3 Tiểu Đoàn 2, 5, 6 thì rút lên núi trấn giữ ở đó. Tại sao lại đưa 3 Tiểu Đoàn Dù lên núi? Nghe tin này tôi vội vã bay ra Phan Rang.

Tư Lệnh Nhảy Dù trên nguyên tắc và bởi định nghĩa là người chỉ huy binh chủng Nhảy Dù. Nếu không được tham dự vào việc soạn thảo kế hoạch hành quân, thì ít nhất trách nhiệm chiến thuật phải được trọn vẹn. Tôi không được Bộ Tổng Tham Mưu hay Phủ Tổng Thống tham khảo một lần nào về việc lui quân, kể từ ngày binh chủng Dù được bốc khỏi Vùng I, quyền chỉ huy, chiến thuật binh chủng Dù, quyền xử dụng anh em quân nhân Dù cũng vượt ra khỏi tầm tay của Tư Lệnh Dù. Anh em binh chủng tôi, đã bị chặt và giao cho người nầy một mảnh, người kia một miếng. Khi nhìn thấy chiến hữu của tôi bị vất vả cùng cực, tôi chạy ngược chạy xuôi đi can thiệp. Trong những giờ chạy đôn chạy đáo, ý tưởng ghê gớm lóe lên trong tôi, "Phải chăng một ác thần đang làm tê liệt hàng vạn tinh binh trước khi mở ra cuộc hỏa thiêu thành La Mã?".

Tôi bay ra Phan Rang gặp ngay Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi lúc đó là Tư Lệnh Phó Quân Đoàn III, đang chỉ huy Bộ tư Lệnh tiền phương Quân Đoàn III tại đây. Nơi đó tôi cũng gặp Tướng Sang Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân. Tôi yêu cầu cho trực thăng lên núi bốc 3 Tiểu Đoàn 2, 5, 6 về Phan Rang. Tướng Nghi chấp thuận, chỉ thị Tướng Sang cho Không Quân giúp. Anh em trực thăng đã rất nhiệt tâm và can đảm trong việc bốc hơn 1000 người bỗng nhiên bị ném lên một ngọn núi chơ vơ mà không một lý do chiến lược hay chiến thuật nào giải thích được cả. Lữ Đoàn 3 trong tư thế vững vàng, sẵn sàng chiến đấu nghiêm chỉnh trong vị trí đứng đắn. 30.03.1975, tôi tạm yên tâm, bay về Sài Gòn.

Vừa đặt chân đến Thủ Đô, tôi được lệnh Bộ Tổng Tham Mưu cho Lữ Đoàn 2 ra Phan Rang thay thế Lữ Đoàn 3, Lữ Đoàn 3 về Sài Gòn tái chỉnh trang Đơn vị. Tôi muốn hét to lên: Tăng cường chớ sao lại thay thế? Mặt trận đang nặng, rút một đập ngăn nước lớn đi, đập mới chưa dựng xong, nước sẽ ùa tới mang lụt lội tàn phá tan tành! SĐ 310 và 320 của đối phương đang di chuyển nhanh về vùng 3 chính vào lúc đầu tháng tư nầy. Sư Đoàn 10 của địch càn quét Nha Trang. Mặt Bắc là Sư Đoàn 10, Nam là các SĐ 310 và 320, tăng chúng ào ào, tù nhân thả ra do bàn tay bí mật từ các khám đường, một số quân nhân của một binh chủng bị mất cấp chỉ huy sinh rối loạn, chính trong biển hỗn loạn và tan vỡ đó, người ta ném Lữ Đoàn 2 Dù, những đứa con thân yêu ruột thịt của tôi, những bằng hữu vào sinh ra tử, nằm gai nếm mật của tôi, trọn lượng ném vào khoảng trống, viên ngọc quý ném vào đại dương giông bão. Ba Tiểu Đoàn 3, 7, và 11 của Lữ Đoàn 2 chiến đấu như những con cọp bị vây hãm, dường như sợ cái đại dương hỗn loạn đó chưa đủ làm thành một hỏa ngục rực lửa, người ta không ai còn nhớ đến việc tiếp tế cho những Thiên thần Mũ Đỏ từ trời cao đáp thẳng xuống địa ngục A Tỳ.

Anh em Lữ Đoàn 2 mặc dù tình hình rối loạn, mặc dù tin tức giao động từ bốn phía, mất Quân Đoàn I, Quy Nhơn thất thủ, Nha Trang thất thủ, anh em vẫn chiến đấu, cho đến viên đạn cuối cùng. Tiểu Đoàn 6 sau những trận oai hùng được lệnh Bộ Tổng Tham Mưu rút khỏi Phan Rang, Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân của Đại Tá Biết thay thế. Nhưng Tiểu Đoàn 3 chỉ 100 anh em được trực thăng bốc về Phan Thiết, Tiểu Đoàn 11 mất liên lạc toàn diện. Tôi mất Thiếu Tá Thành, con chim đầu đàn của Tiểu Đoàn 11 và Đại Tá Nguyễn Thu Lương, mà anh em chúng tôi thường gọi một cách thân thương là "Lương Ruột Ngựa", con chim đầu đàn của Lữ Đoàn 2 cũng tại vùng đất lửa này. Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và Tướng Sang Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân cũng lọt vào tay địch ở Phan Rang.

Chiếc đũa Lữ Đoàn 2 bị bẻ gãy, chiếc đũa Lữ Đoàn 3 bị ném tại Khánh Dương, bốc về Phan Rang, lửa hỏa lực nung nấu mệt nhừ. Ngày 8.4.1975, viên Trung Úy Không Quân tên Trung ném bom Dinh Độc Lập, về mặt dân sự, một số chính khách đối lập bị bắt giữ. Nhưng phản ứng của Tổng Thống Thiệu là đưa "chiếc đũa Lữ Đoàn 1" chiếc đũa còn nguyên vẹn của bó đũa bị tách rời từng chiếc, ra tăng phái Quân Đoàn III, dưới quyền chỉ huy của Tướng Nguyễn Văn Toàn. Ý tưởng rõ rệt trong tôi lúc đó, và cả bây giờ là Tổng Thống Thiệu sợ đảo chánh nên phân tán các đơn vị Nhảy Dù ra các nơi. Tôi là Tư Lệnh Nhảy Dù nhưng tay chân hoàn toàn bị chặt hết.

Ý tưởng làm sống dậy hình ảnh, một ngày tại vùng I, ở Cố Đô Huế, tôi nói với Trung Tướng Ngô Quang Trưởng: "Trung Tướng cứ để anh em tôi về Sài Gòn làm một chuyến, thử xem sao?" Trung Tướng lắng nghe lặng lẽ. Tôi hiểu Tướng Trưởng cũng như anh em chúng tôi là những người lính đơn thuần, chỉ lấy việc bảo vệ Quê Hương làm quan trọng, không màng gì tới danh vọng và chính trị, chúng tôi không có thói quen chọn lựa những quyết định không liên quan trực tiếp đến chiến trường. Cựu Tổng Thống Thiệu có nghe phong phanh về những toan tính đó không? Trong mọi trường hợp, lúc đó tôi nghĩ là ông phân tán anh em chúng tôi vì nghi ngờ. Bây giờ tôi còn muốn nghĩ như thế. Trừ khi ông muốn bẻ tan bó đũa vì lý do khác

- Lý do khủng khiếp

- Tôi không muốn nghĩ tới lý do đó. Tôi muốn nghĩ đến một sự nghi ngờ. Như một sự xua đuổi ý nghĩ ghê gớm kia.

Lữ Đoàn I ra Quân Đoàn III trấn giữ Xuân Lộc, tăng phái cho Sư Đoàn 18 do Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo chỉ huy. Nhiệm vụ của Lữ Đoàn là chận đứng bước tiến của VC vào SàiGòn. Anh em Dù của Lữ Đoàn 1 đã oai hùng làm tròn nhiệm vụ, địch quân không tiến thêm được một tấc đất. Đoàn quân viễn chinh của Võ Nguyên Giáp, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Văn Tiến Dũng, tiến như thác đổ, bị khựng lại ở ngay cửa ngõ của SàiGòn. Từng đợt xung phong có chiến xa và pháo binh yểm trợ, tất cả đều bị đánh bật, tiến lên là phải lùi lại, tấc đất đánh được buổi sáng, buổi chiều anh em Dù ngạo nghễ giành lại. Sau nhiều ngày giao tranh, Sư Đoàn 18 được lệnh rút về Biên Hòa qua ngã Bà Rịa, Lữ Đoàn 1 chiến đấu giữ vững trận tuyến, từ đầu tới cuối. Sau chót đến đêm 28 rạng 29/04, Bộ Đội CS tấn công Lữ Đoàn 1 Dù ở Lăng Can, Bà Rịa đánh đến giờ chót, Lữ Đoàn 1 Dù mới rút ra Vũng Tàu. Tôi được lệnh trực tiếp cho Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 1 Dù, mà anh em chúng tôi âu yếm gọi là Đỉnh Tây Lai, đứng ở dưới bờ bảo vệ cho những đứa con lên tàu. Người chỉ huy Nhảy Dù có thói quen ở với hiểm nguy cho tới phút cuối cùng, dành sự an toàn cho từng đứa con yêu quý. "Đỉnh Tây Lai" là một trong những Thiên Thần lẫm liệt đó.

Về phần Lữ Đoàn 4, từ Đà Nẵng được rút về SàiGòn giữa tháng 02/74, biệt phái Biệt Khu Thủ Đô. Chính Lữ Đoàn 4, dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Lê Minh Ngọc, mà anh em Dù chúng tôi âu yếm gọi là "Ngọc Nga", đã chận VC ở cửa ngõ Thủ Đô, ngang Xa Lộ Biên Hòa, trong những giờ khắc Sài Gòn bắt đầu rơi vào rối loạn. Lữ Đoàn 3 của Trung Tá Trần Đăng Khôi (Lữ Đoàn Phó mới thay thế Đại Tá Phát trong chức vụ Lữ Đoàn Tưởng Lữ Đoàn 3 Dù, Trung Tá Bùi Quyền Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5, thay thế Khôi trong chức vụ Lữ Đoàn Phó lữ đoàn này) từ Phan Rang rút về đóng ở Hoàng Hoa Thám, đánh những trận chót ngay trong lòng Thủ Đô, mặc dù trăm nghìn giao động cho tới phút chót. Đến những giây phút cuối cùng, anh em Dù vẫn giữ vững từng tấc đất được giao phó, hoàn thành nhiệm vụ thiêu thân, làm nút chặn địch, để đồng bào ra đi bình yên, để được ngã gục trên thân thể của Quê Mẹ nghìn đời.


Tướng Lê Quang Lưỡng

Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù/ QLVNCH

Friday, June 25, 2010

Sinh Nhật Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng Jan-2005

Gia đình tặng hoa

Trang cụ QLVNCH

Hợp ca Nhảy Dù Hành Khúc

Đồng Hương Bỉnh Dương tặng Quà

Quan khách

Người con gái Cả cám ơn Ba và tặng hoa

Bắt tay thế hệ 2 QLVNCH

Chụp hình lưu niệm Quả Phụ Tướng Lãnh QLVNCH


Thế hệ 2 QLVNCH và Thiếu Úy Huệ





Hội Ái Hữu Bình Dương trao quà




Tặng Hoa cho vợ hiền 

Nghĩa Tử Chuẩn Tướng LQL  đồng Tổ Chức với Hội Ái Hữu Bình Dương

Đô Đốc Chung Tấn Cang phát biểu

Vũ Khí Đệ Nhị Thế Chiến và Chiến Tranh VN

Ban Nhạc Quốc Tõan - Dạ Lan

Con trai, Con rể, con nuôi và thế hệ 2 QLVNCH



Ông Bà Lê Quang Lưỡng và con cháu

Minh Hằng múa Hula tặng Ông Nội Lê Quang Lưỡng



Hình Lưu Niệm cùng con cháu và gia đình



Thế hệ 2 QLVNCH tặng quà lưu niệm



Thiếu Úy Huệ viết lưu niệm








Các Con cháu


Hình lưu niệm gia đình

Cháu ngọai lưu niệm với Quân phục và trang bị QLVNCH

Popular Posts